IPC E&C khẳng định năng lực tại các dự án năng lượng xuyên quốc gia quy mô lớn

IPC E&C

Nhà máy điện gió Savan 1 tại tỉnh Savannakhet (Lào) là dự án năng lượng tái tạo có tầm quan trọng chiến lược trong hợp tác năng lượng Việt – Lào đã chính thức vận hành thương mại (ngày 26/12/2025) không chỉ là dấu mốc của chủ đầu tư, mà còn khẳng định năng lực triển khai, tổ chức thi công và quản lý tổng thể của Liên danh nhà thầu do Công ty Cổ phần Xây dựng Công trình IPC (IPC E&C) đứng đầu, trực tiếp thi công giai đoạn 1 của dự án, quy mô 300 MW với sản lượng điện dự kiến trên 800 triệu kWh/năm được truyền tải về Việt Nam qua đường dây 220 kV mạch kép Savan 1 – Lao Bảo.
Vượt khó trong điều kiện thi công phức tạp
Dự án Nhà máy điện gió Savan 1 được triển khai trên địa bàn rộng, địa hình phức tạp, điều kiện khí hậu khắc nghiệt của Lào và yêu cầu kỹ thuật cao đối với điện gió công suất lớn. Trong bối cảnh đó, Liên danh nhà thầu do IPC E&C đứng đầu đã tổ chức thi công song song nhiều mũi, tối ưu biện pháp thi công, kiểm soát chặt chẽ chất lượng – tiến độ – an toàn, qua đó đảm bảo dự án hoàn thành đúng kế hoạch để kịp vận hành thương mại cuối năm 2025. Dự án Nhà máy điện gió Savan 1 đã “về đích” đúng kế hoạch đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn tuyệt đối với hơn 3 triệu giờ lao động an toàn.
Việc hoàn thành dự án Nhà máy điện gió Savan 1 (với 48 tua bin gió, mỗi tua bin có công suất 6,25 MW, chiều cao trụ tua bin lên đến 130 m và toàn bộ hệ thống kỹ thuật) trong thời gian 14 tháng là kết quả của năng lực điều phối và kinh nghiệm triển khai các dự án năng lượng quy mô lớn và sự phối hợp hiệu quả giữa IPC E&C và các đơn vị trong liên danh.

Khẳng định năng lực nhà thầu Việt Nam tại các dự án năng lượng xuyên biên giới:

Với vai trò là đơn vị đứng đầu liên danh, IPC E&C đã trực tiếp đảm nhiệm công tác quản lý tổng thể thi công, kiểm soát chất lượng, điều phối nguồn lực và phối hợp kỹ thuật giữa các bên liên quan. Việc hoàn thành dự án Nhà máy điện gió Savan 1 đúng tiến độ là minh chứng rõ nét cho năng lực của nhà thầu Việt Nam trong việc tham gia các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn, đặc biệt là các dự án triển khai tại thị trường quốc tế.

Dự án Nhà máy điện gió Savan 1 cũng là một trong số ít các dự án điện gió trên bờ có công suất lớn tại khu vực Đông Nam Á được hoàn thành trong thời gian ngắn, với yêu cầu kỹ thuật cao và tiến độ hết sức khẩn trương, phục vụ mục tiêu truyền tải điện về Việt Nam.
Nền tảng cho các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn tiếp theo:

Việc hoàn thành giai đoạn 1 dự án Nhà máy điện gió Savan 1 tạo tiền đề quan trọng cho các giai đoạn tiếp theo của dự án, đồng thời mở ra cơ hội để IPC E&C có thể tiếp tục tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và điện sạch xuyên biên giới.

Trong thực tế, đây là tổ hợp công việc có tính chất phức tạp cao, đòi hỏi độ chính xác cao, đặc biệt đối với các hạng mục móng trụ và lắp dựng tua bin gió công suất lớn. Bên cạnh đó, điều kiện thời tiết khắc nhiệt (mưa nhiều của Lào), địa hình phức tạp và yêu cầu kỹ thuật đã đặt ra áp lực lớn đối với công tác tổ chức thi công và quản lý tiến độ.

Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, biện pháp thi công và kế hoạch cung ứng vật tư – thiết bị được chuẩn bị từ sớm, chủ động cập nhật liên tục theo điều kiện thực tế, giúp giảm thiểu tối đa rủi ro phát sinh. Công tác phối hợp giữa nhà thầu, chủ đầu tư và các bên liên quan được duy trì chặt chẽ, đảm bảo các hạng mục được bàn giao liên tục, phục vụ công tác lắp dựng và thử nghiệm.

Đồng thời, công tác bảo đảm an toàn lao động tại toàn bộ các dự án mà IPC E&C tham gia nói chung và dự án Nhà máy điện gió Savan 1 nói riêng đều được đặt ở mức ưu tiên cao nhất. Cột mốc COD dự án Nhà máy điện gió Savan 1 là kết quả của hàng nghìn giờ lao động nghiêm túc, của tinh thần bền bỉ nơi công trường và sự đồng lòng xuyên suốt từ đội ngũ kỹ sư, chuyên gia đến toàn thể cán bộ nhân sự của IPC E&C. Với quy trình giám sát nghiêm ngặt cùng với tiềm năng mạnh về tài chính, nền tảng trang thiết bị hiện đại, có đội ngũ nhân lực đủ kinh nghiệm, có khả năng phân tích và làm chủ công nghệ lắp đặt những yếu tố quan trọng góp phần dự án về đích đúng kế hoạch.

Sau gần 10 năm tham gia thị trường năng lượng tái tạo, IPC E&C đã đảm nhiệm vai trò là tổng thầu EPC của hàng trăm dự án năng lượng: Từ các dự án điện mặt trời trên mái nhà có công suất vài MWp đến các nhà máy điện mặt trời, điện gió công suất lớn tại Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Hậu Giang, Sóc Trăng… Đến nay, IPC E&C đã trở thành Tổng thầu EPC hàng đầu tại Việt Nam với tổng số 2 GW công suất lắp đặt: 617 MWp điện mặt trời trang trại, 100 MWp điện mặt trời áp mái, hơn 1.354 MW trang trại điện gió, đường dây và trạm biến áp 220 kV, được đánh giá rất cao về tính chuyên nghiệp, bài bản và hiệu quả.

Tại thị trường quốc tế, IPC E&C cũng đang thực hiện dự án điện gió trên bờ Kalayaan 2 (100 MW) tại Laguna, Philippines hướng đến mục tiêu phát điện thương mại (COD) vào tháng 3/2026. IPC E&C với định hướng trở thành sự lựa chọn tin cậy cho các chủ đầu dự án năng lượng tái tạo trong nước và quốc tế./.

BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Khánh thành Nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4

Sáng ngày 14/12, tại tỉnh Đồng Nai, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự lễ khánh thành Nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4, gắn biển công trình chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV.
Nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4 do Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) – đơn vị thành viên Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam – PVN) làm chủ đầu tư, liên danh nhà thầu Lilama – Samsung C&T là tổng thầu EPC, có tổng mức đầu tư khoảng 1,4 tỷ USD, khoảng 40.000 tấn kết cấu thép, thiết bị và 120.000 m³ bê tông được lắp đặt.
Với tổng công suất 1.624 MW, hai nhà máy dự kiến cung cấp hơn 9 tỷ kWh/năm khi vận hành ổn định, bổ sung nguồn điện nền công suất lớn cho hệ thống, đặc biệt tại khu vực phía Nam. Cụm nhà máy cũng đảm nhiệm vai trò nguồn điện linh hoạt, hỗ trợ điều độ và cân bằng hệ thống trong bối cảnh tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng.

Dự án được đầu tư theo chuẩn công nghệ hiện đại, sử dụng tua bin khí thế hệ 9HA.02 của GE (Hoa Kỳ) – dòng tua bin có công nghệ, công suất, hiệu suất cao nhất trên thế giới hiện nay. Nhờ đó, nhà máy đạt hiệu suất 62-64%, thuộc nhóm cao nhất hiện nay. Công nghệ 9HA.02 đáp ứng tiêu chuẩn khí thải nghiêm ngặt và cho phép chuyển đổi nhiên liệu linh hoạt, từ LNG đến khả năng đốt trộn hydrogen tới 50%, tiến tới sử dụng 100% hydrogen trong tương lai.
Phát biểu tại sự kiện, trong không khí cả nước đang tích cực thi đua hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2025, cả nhiệm kỳ 2021-2025, lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ: Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 – nhà máy điện LNG đầu tiên của Việt Nam là “mảnh ghép” đặc biệt quan trọng trong củng cố, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Theo Thủ tướng: Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là bộ phận cấu thành quan trọng của an ninh quốc gia; là nền tảng chiến lược, yêu cầu cấp thiết để phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới; đặc biệt trong bối cảnh thị trường năng lượng quốc tế đang có nhiều biến động, yêu cầu về chi phí công nghệ, sự chuyển dịch năng lượng nhanh chóng và việc ứng phó biến đổi khí hậu rất phức tạp và cực đoan.

Thời gian qua, ngành năng lượng duy trì tăng trưởng ổn định, cơ bản bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, sinh kế của người dân, phát triển của đất nước và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Đặc biệt, trong nhiệm kỳ vừa qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đặc biệt tập trung triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia, từ việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, quy hoạch, đến kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc tổ chức triển khai thực hiện. Cụ thể là Chính phủ trình Quốc hội thông qua Luật Dầu khí, Luật Điện lực (sửa đổi); ban hành các nghị định thi hành về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; thông qua Quy hoạch điện VIII và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh; Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia; kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn cho các công trình hạ tầng năng lượng trọng điểm như: Trung tâm Nhiệt điện Ô Môn, đường dây 500 kV mạch 3 Quảng Trạch – Phố Nối, đường dây 500 kV Lào Cai – Vĩnh Yên, các dự án Nhiệt điện Thái Bình 2, Nhiệt điện Sông Hậu, chuỗi dự án khí, điện Lô B – Ô Môn..
Theo Thủ tướng: Đây là nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, cho thấy sự trưởng thành của các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, doanh nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư. Trong đó có vai trò tiên phong, xung kích của các tập đoàn nhà nước (như PVN) và các doanh nghiệp khác; theo tinh thần nguồn lực bắt nguồn từ tư duy và tầm nhìn, động lực bắt nguồn từ đổi mới và sáng tạo, sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân và doanh nghiệp.

Gần đây nhất, Bộ Chính trị đã ban hành các nghị quyết trụ cột như: Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với những định hướng chiến lược: Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể phát triển năng lượng quốc gia. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, khu vực tư nhân là một động lực quan trọng nhất; phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới, thực hiện 2 mục tiêu 100 năm của đất nước; phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng.
Thủ tướng cho biết: Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy, những quốc gia phát triển nhanh và bền vững đều sở hữu một hạ tầng năng lượng mạnh, ổn định và hiện đại. Theo đó, điện lực phải đi trước một bước, mở đường cho công nghiệp hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của quốc gia.

Từ thực tiễn nước ta những năm qua cho thấy, cứ tăng trưởng kinh tế 1 điểm phần trăm thì tăng trưởng điện phải gấp 1,5 – 2 lần. Hiện nay, công suất tiêu thụ điện cực đại của cả nước là 54.500 MW. Như vậy, mức tăng trưởng điện mỗi năm là từ 6.500 – 8.200 MW. Do vậy, nhu cầu về nguồn cung cấp điện ổn định và nhu cầu sử dụng điện của đất nước là rất lớn, đặc biệt, trong thời gian tới, chúng ta tập trung phát triển những đột phá chiến lược như công nghệ cao, sản xuất chip bán dẫn, xây dựng các trung tâm dữ liệu lớn quốc gia, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, xây dựng hệ thống đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị…

Thủ tướng khẳng định: Với hơn 9 tỷ kWh điện cung cấp mỗi năm từ dự án, việc đưa vào vận hành tổ hợp nhà máy LNG đầu tiên của Việt Nam đã đặt nền móng cho thị trường điện khí của đất nước (nguồn điện chủ động và ổn định), đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc xây dựng hệ thống năng lượng linh hoạt, sạch, ổn định, hiện đại của quốc gia với “6 nhất”:

1. Giá thành đầu tư thấp nhất.

2. Quy mô lớn nhất.

3. Công nghệ hiện đại nhất.

4. Công suất lớn nhất.

5. Thời gian lựa chọn nhà thầu EPC ngắn nhất (11 tháng).

6. Giá điện thương mại cạnh tranh nhất.

Thủ tướng cũng đánh giá, dự án đem lại những ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, vùng kinh tế và các địa phương:

– Khẳng định nỗ lực thực hiện cam kết giảm phát thải bằng “0”, bảo đảm mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 của Việt Nam tại COP26. Đảm bảo an ninh năng lượng đi đôi với bảo vệ môi trường và tài nguyên đất nước.

– Đánh dấu bước chuyển đổi căn bản về mặt tư duy, mô hình và xu hướng phát triển nguồn năng lượng xanh, bền vững, hiện đại, giảm 40% phát thải carbon so với điện than và 30% phát thải carbon so với điện dầu mỏ (từ nguồn năng lượng hoá thạch sang nguồn năng lượng tái tạo).

– Lời giải cho bài toán bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Giữ vai trò trung gian trong quá trình chuyển dịch, giảm thiểu tối đa việc hệ thống điện mất ổn định khi tỷ lệ năng lượng tái tạo tăng nhanh.

– Dự án là hạ tầng chiến lược, đóng góp vào sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (thu ngân sách, phát triển công nghệ cao, thu hút FDI chất lượng cao, đào tạo nhân lực chất lượng cao, vận hành hệ thống cảng biển và logistics trọng điểm, phát triển năng lượng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu…).

– Dự án quan trọng do PVN triển khai, thể hiện vai trò chủ lực của doanh nghiệp nhà nước trong bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững, cũng như chứng minh bản lĩnh, năng lực tổ chức, điều hành, phối hợp và quản trị thông minh của doanh nghiệp, nhất là dám vượt qua khó khăn.

– Nền tảng cho lộ trình phát triển điện khí LNG của Việt Nam, tạo động lực cho Quy hoạch Điện VIII (hình mẫu cho 13 dự án LNG tiếp theo) và giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn với chuỗi cung ứng LNG toàn cầu.

Người đứng đầu Chính phủ đánh giá: Để dự án được đưa vào vận hành, các chủ thể liên quan đã từng đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức “chưa từng có tiền lệ”, nhiều “bài toán” cần có lời giải nhanh chóng, kịp thời, đúng “đáp số”.

Về tiến độ: Dự án có quyết định đầu tư tháng 7/2020, tiến hành khởi công tháng 5/2022, trong thời điểm đại dịch COVID-19 diễn biến rất phức tạp và hậu quả kéo dài.

Về vốn: Dự án được thực hiện trong bối cảnh không có bảo lãnh Chính phủ, phải thu xếp vốn từ các định chế tài chính quốc tế với những chuẩn mực nghiêm ngặt. Đây là một hình mẫu, cho thấy sự trưởng thành, lớn mạnh, bản lĩnh của doanh nghiệp.

Về cơ chế, chính sách: Các thủ tục từ nghiên cứu khả thi, đàm phán hợp đồng mua bán điện, khí, đấu thầu EPC đến thu xếp vốn kéo dài tới 5 năm. Thời điểm thực hiện dự án chưa có cơ chế về tính giá khí LNG trong giá thành điện, chưa có quy định về bao tiêu sản lượng điện dài hạn (yếu tố đầu vào quan trọng để tính hiệu quả đầu tư và phương án tài chính để thu xếp vốn). Các chủ thể liên quan đã vừa làm, vừa mở rộng, vừa hoàn chỉnh dần với tinh thần không cầu toàn, không nóng vội, không bỏ lỡ cơ hội, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết; đây là bài học rất quan trọng.

Về giải phóng mặt bằng: Dự án gặp nhiều khó khăn trong giải quyết về quy hoạch sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, bàn giao đất, cho thuê đất tại khu công nghiệp.

Về nguồn nguyên liệu: Khi dự án bước vào giai đoạn cao điểm, việc vận chuyển thiết bị quốc tế về Việt Nam gặp nhiều khó khăn; nguồn cung nguyên vật liệu cát, đá, sỏi… từ các chủ mỏ luôn thiếu hụt.

Nhiều bài học về xử lý kỷ luật cán bộ trong các dự án năng lượng trước đây, có thể khiến các đồng chí “chùn bước”.

Tuy nhiên, với sự vào cuộc, chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các bộ, ngành, địa phương dưới sự lãnh đạo của Đảng, các chủ thể liên quan đã từng bước tháo gỡ được những khó khăn, thách thức, tập trung thi công hoàn thành dự án với tinh thần các chiến binh trên công trường, “vượt nắng, thắng mưa, không thua bão gió”, “3 ca 4 kíp”, “ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương”, “làm việc xuyên ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết”, “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”.

“Có thể nói, việc xây dựng và khánh thành là dự án kiểu mẫu, tiêu biểu về nhiều mặt, nhất là việc vượt qua mọi khó khăn, thách thức, trở ngại để hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường và bảo đảm tái định cư một cách thỏa đáng cho người dân. Chúng ta tự hào ngành điện, ngành dầu khí đã trưởng thành, lớn mạnh hơn bao giờ hết, thể hiện tinh thần, bản lĩnh Việt Nam, tầm vóc của chúng ta” – Thủ tướng phát biểu.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Thủ tướng nhiệt liệt biểu dương, ghi nhận và đánh giá những nỗ lực, quyết tâm của PVN, PV Power, các bộ, ngành, địa phương, các nhà thầu trong và ngoài nước trong việc đưa vào vận hành Nhà máy điện Nhơn Trạch 3, Nhơn Trạch 4 bảo đảm tiến độ, chất lượng, không để xảy ra sai phạm, duy trì kỷ luật công trường và các tiêu chuẩn an toàn cao nhất; đặc biệt chân thành cám ơn bà con Nhân dân đã nhường đất, dời nhà, tái định cư để phục vụ triển khai dự án.

Theo Thủ tướng: Thành công của dự án không chỉ sẽ góp phần lan toả khí thế, động lực, mà còn là bài học kinh nghiệm để chúng ta tiếp tục triển khai các dự án năng lượng tái tạo tiếp theo.

Thứ nhất: Càng trong khó khăn, thách thức, nhiệm vụ càng nặng nề, càng phải đoàn kết, thống nhất, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám vượt qua chính mình vì sự nghiệp chung, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thứ hai: Phải nắm chắc tình hình, bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo để tiến đến chân lý, có tư duy, phương pháp luận, cách tiếp cận giải quyết, xử lý vấn đề khoa học, kịp thời, linh hoạt, hiệu quả.

Thứ ba: Tăng cường sự hiệp đồng, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các lực lượng, các cấp, các ngành, các cơ quan; tập trung tháo gỡ các rào cản về thể chế, cắt bỏ thủ tục hành chính rườm rà, tạo động lực, truyền cảm hứng cho các chủ thể có liên quan; khen thưởng, động viên kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích và xử lý nghiêm các sai phạm, coi trọng việc khắc phục hậu quả.

Thứ tư: Kết hợp hài hòa, hợp lý, hiệu quả giữa nội lực và ngoại lực. Trong đó nội lực (gồm con người, cơ chế, chính sách, các tài sản được giao…) là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, ngoại lực (như nguồn vốn, khoa học, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đào tạo nhân lực…) là quan trọng và đột phá.

Thứ năm: Tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, phân công phải bảo đảm “6 rõ: Rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả”. Chủ động phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm cá nhân với tinh thần “đã nói là làm, đã cam kết phải thực hiện, đã làm, đã thực hiện là có kết quả cụ thể, đo lường, lượng hóa, cân đong đo đếm được”. Coi trọng trí tuệ, tiết kiệm thời gian, quyết đoán đúng lúc.

Để dự án được vận hành hiệu quả, phát huy rõ vai trò chiến lược trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phát triển kinh tế, xã hội, Thủ tướng đề nghị PVN tiếp tục khẳng định vai trò tập đoàn năng lượng quốc gia có tính định hướng và dẫn dắt toàn ngành; là điểm tựa trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện chiến lược chuyển đổi số, tăng trưởng xanh, chuyển dịch năng lượng (năng lượng tái tạo, hydrogen, LNG, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi…), tự tin và bản lĩnh tiến thẳng lên công nghệ cao.

Các cơ quan, chủ thể liên quan vận hành dự án bảo đảm tuân thủ tuyệt đối các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn, tối ưu hóa hiệu suất, quy định về môi trường. Tăng cường phối hợp với các cơ quan trong hệ thống điện quốc gia, ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và các giải pháp tối ưu để vận hành hệ thống ổn định, tận dụng cơ chế giá điện theo giờ để tăng doanh thu khi giá cao và bảo đảm tính cạnh tranh cao nhất. Tiến hành quyết toán, kiểm toán theo đúng quy định.

Các bộ, ngành, cơ quan liên quan lập kế hoạch bảo đảm LNG dài hạn kết hợp giao ngay để giảm rủi ro biến động giá; đồng thời kết hợp nhà thầu quốc tế và nội địa để giảm chi phí, tối ưu chi phí bảo dưỡng. Rà soát, tháo gỡ ngay các điểm nghẽn, vướng mắc về thể chế, pháp luật, cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh công bằng, minh bạch, ổn định, nhất là việc hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ cho toàn bộ chuỗi cung ứng LNG và cơ chế vận hành các nhà máy nhiệt điện LNG, nhân rộng những bài học hay, kinh nghiệm quý từ dự án tiêu biểu, kiểu mẫu này.

Thủ tướng khẳng định: Sự thành công của dự án Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4 là hình mẫu chuẩn mực, là động lực, niềm tin, tạo nền tảng để chúng ta tiếp tục chinh phục những kỷ lục mới, triển khai thực hiện những dự án hạ tầng năng lượng trọng điểm quốc gia trong thời gian tới với quy mô lớn hơn, công nghệ tiên tiến hơn, tiêu chuẩn cao hơn và năng suất, chất lượng hơn.

Việc khánh thành dự án chính là lời khẳng định, là thông điệp về tầm vóc mới của Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong kỷ nguyên phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đồng thời, khẳng định: PVN đã tham gia vào chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu; là tập đoàn đa quốc gia của Việt Nam – tập đoàn kinh tế nhà nước hàng đầu Việt Nam, đã lớn mạnh, trưởng thành vượt bậc với tinh thần chiến binh, dám nghĩ, dám làm, dám dấn thân và vượt qua mọi thử thách, vượt qua chính mình, có khả năng làm tổng thầu EPC những công trình năng lượng lớn của quốc gia và trên thế giới.

Thủ tướng khẳng định: Chính phủ cam kết sẽ đồng hành, lắng nghe, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tạo mọi điều kiện thuận lợi theo hướng thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, quản trị thông minh để các chủ thể liên quan phát huy tối đa năng lực, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và sứ mệnh của mình./.

BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

So sánh dây Static rope và Semi Static rope

Static rope-Semi static rope

Trong môi trường công nghiệp Châu Âu và các công việc trên dây, mọi thiết bị liên quan đến bảo vệ sinh mạng con người đều phải dựa trên tiêu chuẩn EN (European Norm). Và khi nói đến làm việc trên cao, dây an toàn chính là “xương sống” của toàn bộ hệ thống bảo vệ.
Nhưng không ít doanh nghiệp, người dùng vẫn nhầm lẫn giữa Static Rope và Semi-Static Rope, thậm chí dùng sai trong môi trường rope access – điều này dẫn đến nhiều tai nạn nghiêm trọng đã từng được báo cáo trong ngành.
Vậy chọn dây nào mới đúng? Hãy đi từ bản chất kỹ thuật và tiêu chuẩn EN
1. Static Rope ( Dây tĩnh hoàn toàn)
• Độ giãn cực thấp, thường <2%
• Thiết kế cho tải đứng yên, kéo tải, neo cố định, giàn giáo, rigging
• KHÔNG có tiêu chuẩn EN dành cho bảo vệ người rơi tự do
• Không được thiết kế để hấp thụ lực sốc
Ứng dụng đúng:
✔ Kéo tải
✔ Hệ thống neo chết
✔ Treo thiết bị, máy móc
✔ Dùng trong hệ thống dây không liên quan tới người chịu rơi
• EN 1891 là tiêu chuẩn Châu Âu dành cho low-stretch kernmantle ropes (dây lõi–vỏ giãn rất thấp).
• Theo EN 1891, có hai loại: Type A và Type B.
• Ví dụ tài liệu của hãng dây nói rõ: “If the user is practising free climbing, he/she must use a dynamic rope that complies with standard EN 892. Static ropes should never be used if the user could find him/herself in a position where they could suffer a fall above factor 1.”
EN 1891 *không nói “dây này không dùng cho người” một cách tuyệt đối; mà nói rõ về giới hạn sử dụng: loại dây low-stretch theo EN1891 có thể dùng cho người trong các ứng dụng làm việc trên cao, cứu hộ, caving (Type A) — tức người dùng trong môi trường có rủi ro thấp hơn rơi lớn.

2. Semi-Static Rope – đúng tiêu chuẩn EN 1891
Đây là loại dây được chấp nhận trong toàn bộ công nghiệp châu Âu cho hoạt động làm việc trên cao.
• Tuân theo tiêu chuẩn EN 1891 Type A
• Độ giãn thấp 2–5% → giúp người ổn định khi làm việc nhưng vẫn hấp thụ được lực rơi nhỏ
• Chịu tải sốc trong tình huống rơi ngắn (factor < 0.3), phù hợp rope access
• Được công nhận là PPE cứu sinh (Personal Protective Equipment)
Ứng dụng đúng:
✔ Rope Access (IRATA / SPRAT)
✔ Công nhân làm việc trên cao
✔ Kỹ thuật viên bảo trì công nghiệp
✔ Cứu hộ công nghiệp (industrial rescue)
✔ Thao tác lên/xuống bằng thiết bị hãm rơi (descenders/ascenders)
2. Vì sao Static Rope không bao giờ được dùng cho người?
Lý do đơn giản nhưng tối quan trọng:
Static Rope = không có khả năng hấp thụ lực rơi.
Chỉ cần công nhân trượt chân rơi 20–30 cm, lực sốc truyền thẳng lên cơ thể và neo có thể vượt quá:
• giới hạn thiết bị hãm rơi,
• giá trị lực tối đa theo EN,
• hoặc chịu tải vượt chuẩn lên đai cơ thể.
Rất nhiều báo cáo tai nạn từ EU, IRATA và OSHA đều kết luận:
“Static rope gây lực sốc vượt 10–12 kN trong rơi ngắn – đủ gây chấn thương nghiêm trọng.”
Trong khi tiêu chuẩn an toàn EU quy định:
• Lực tối đa tác động lên cơ thể người không được vượt 6 kN.
Static rope hoàn toàn không đáp ứng yêu cầu này.
3. Semi-Static Rope và Dynamic Rope được chọn vì lý do gì?
✔ Vì nó theo EN 1891 Type A
Chỉ loại dây này được EU công nhận dùng cho con người trong môi trường công nghiệp.
✔ Độ giãn thấp – tối ưu cho thao tác
• Công nhân đứng làm việc không bị “nhún”
• Đảm bảo độ chính xác khi thao tác thiết bị hoặc sửa chữa
✔ Vẫn hấp thụ lực rơi nhỏ (fall factor rất thấp)
Trong rope access, tiêu chuẩn yêu cầu:
• Không xảy ra rơi tự do dạng climbing
• Nhưng vẫn phải đề phòng “rơi nhỏ” khi chuyển dây hoặc lỗi thao tác
→ Semi-static xử lý được tình huống này.
✔ Tương thích với tất cả thiết bị chuẩn EN
• Ascender
• Descender
• Backup fall arrester
• Anchor devices

Tổng hợp so sánh theo tiêu chuẩn EN cả 3 loại dây Static – Semi Static – Dynamic Rope.

Loại dây Tiêu chuẩn Độ giãn Khuyên Dùng Ghi nhớ
Dynamic rope  EN 892  30–40%  ✔
Semi-static rope  EN 1891 Type A  2–5%  ✔  
Static rope  EN 1891 Type A  <2%    

Khởi động dự án Nhà máy sản xuất khí công nghiệp Cái Mép (TP. Hồ Chí Minh)

Thông tin từ Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam – PVN) cho biết [*]: Tổng Công ty CP Hóa chất và Dịch vụ Dầu khí (PVChem) – đơn vị thành viên của PVN và Tập đoàn Messer SE Co. KGaA (CHLB Đức) đã ký kết hợp đồng Liên doanh thành lập Công ty TNHH Khí Công nghiệp Cái Mép. Theo đó, Liên doanh PVChem – Messer sẽ đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất khí công nghiệp tại Khu công nghiệp Cái Mép (TP. Hồ Chí Minh).
Dự án Nhà máy sản xuất khí công nghiệp tại Khu công nghiệp Cái Mép (TP. Hồ Chí Minh) có công suất 200.000 tấn khí công nghiệp/năm và tổng mức đầu tư khoảng 35 triệu USD. Dự kiến, dự án sẽ khởi công vào quý 3 năm 2026 và vận hành thương mại vào quý 3 năm 2028.

Nhà máy sản xuất khí công nghiệp Cái Mép được thiết kế theo mô hình kinh tế xanh và tuần hoàn, tận dụng năng lượng lạnh từ hệ thống kho LNG của Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) để làm lạnh sâu cho quá trình tách khí. Nhà máy áp dụng công nghệ tách khí lạnh sâu (Cryogenic Air Separation – CAS) của châu Âu, kết hợp thu hồi năng lượng lạnh phát sinh trong quá trình tái hóa khí LNG. Giải pháp này giúp giảm đáng kể điện năng và nước làm mát, từ đó giảm phát thải gián tiếp CO₂ và nâng cao hiệu quả môi trường tổng thể. Nhà máy sản xuất khí công nghiệp Cái Mép là mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị LNG – khí công nghiệp – năng lượng sạch của PVN, góp phần nâng cao hiệu quả năng lượng, giảm phát thải CO₂ và tối ưu hạ tầng khí hiện có.

Đây không chỉ là dự án tiên phong trong chuyển đổi năng lượng, mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, liên kết chuỗi của PVN và PVChem được giao triển khai, góp phần thúc đẩy chiến lược năng lượng quốc gia.

Dự án sẽ tận dụng nguồn nhiệt lạnh (cold energy) từ Kho LNG Thị Vải của PV GAS để làm lạnh sâu, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào điện năng. Phụ phẩm năng lượng của đơn vị này trở thành đầu vào sản xuất của đơn vị khác.

Trong dự án này, PV GAS sẽ giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm nguồn năng lượng từ nhà máy LNG ổn định và tin cậy – điều kiện thiết yếu cho thành công của dự án.

Thông tin thêm về PVChem và Messer:

PVChem là đơn vị thành viên của PVN, hoạt động trong lĩnh vực hóa chất dầu khí, dịch vụ kỹ thuật, sản xuất xanh và năng lượng tái tạo. Với hơn 35 năm phát triển, PVChem hướng tới trở thành doanh nghiệp hàng đầu khu vực trong lĩnh vực hóa chất và dịch vụ công nghiệp, tiên phong trong chuyển dịch xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Messer là tập đoàn tư nhân lớn nhất thế giới chuyên về khí công nghiệp, y tế và khí đặc biệt, hoạt động tại hơn 60 quốc gia với 127 năm kinh nghiệm. Hoạt động tại Việt Nam từ năm 1997, Messer là một trong những nhà đầu tư Đức lớn nhất, có các nhà máy ở Hải Phòng, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Bình Dương và Tây Ninh/.

Nguồn : BBT TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Vi khuẩn tái chế nhựa thế nào?

Tai Che Nhua

Vi khuẩn trải qua quá trình tiến hóa hàng tỷ năm, có khả năng tiết ra loại enzyme đặc biệt ‘ăn’ nhựa, mở ra triển vọng mới trong xử lý và tái chế loại rác này.

Có khi nào bạn tự hỏi vì sao vỏ chuối, quần áo cotton, giấy có thể phân hủy sinh học, còn nhựa lại tồn tại tới vài trăm năm. Thực tế, quá trình phân hủy trong tự nhiên dựa vào một cỗ máy tuần hoàn nhỏ bé – vi khuẩn. Chúng mài giũa kỹ năng trong hàng tỷ năm, nhai bất cứ thứ gì trong tầm với (động vật, thực vật) để chuyển hóa thành năng lượng sinh tồn.

Trong khi đó, so với chiều dài lịch sử Trái Đất, nhựa chỉ như một “đứa trẻ” chưa đầy 100 năm tuổi. Loại vật liệu này phần lớn được chiết xuất từ dầu thô, trải qua nhiều bước trong quá trình tinh chế và phối trộn, hình thành các loại nhựa khác nhau. Ví dụ, polypropylene (PP) cứng và bền, hoàn hảo cho các sản phẩm như hộp đựng thực phẩm. Hay polystyrene (PS) mềm dẻo và nhẹ hơn, lý tưởng cho các mặt hàng như bao bì xốp hoặc vật liệu cách nhiệt trong xây dựng.

Qua nhiều công đoạn phối trộn với cấu trúc bền chắc, nhựa ban đầu xa lạ với vi khuẩn. Chúng cần nhiều thời gian “vò đầu bứt tai”, cân nhắc việc “nhai” loại vật liệu mới trên hành tinh.
Tương tự câu chuyện “thiên địch” trong giới tự nhiên, Ideonella sakaiensis, vi khuẩn ăn nhựa đầu tiên được phát hiện vào năm 2016, tại bãi rác bên cạnh nhà máy tái chế ở thành phố Sakai, Nhật Bản. Chúng được coi là “kẻ nổi loạn của thế giới vi khuẩn”, khi ăn được PET, loại nhựa phổ biến nhất thế giới, ứng dụng trong chai nhựa và quần áo.
Ideonella sakaiensis là loại khuẩn hình que. Để ăn nhựa, chúng tiết ra loại enzyme đặc biệt, được đặt tên là PETase và MHETase. Cách chúng phân hủy nhựa tương tự đàn kiến đói nhai một chiếc bánh sandwich. Trong đó, PETase và MHETase có chức năng tương tự hàm răng khỏe mạnh. PETase cắt các chuỗi liên kết dài và bền chắc trong nhựa (polymer) thành các thành tố cơ bản đơn giản (monomer). Còn MHETase tiếp tục cắt thành phẩm trên thành ethylene glycol và terephthalic acid (hiểu nôm na là các monomer nhỏ hơn), tiền chất tạo nhựa.

Sau khi hấp thụ các monomer nhỏ, vi khuẩn chuyển hóa chúng thành năng lượng sinh tồn.

Việc phát hiện vi khuẩn ăn nhựa mở ra triển vọng mới trong xử lý và tái chế loại rác này, đặc biệt khi thế giới dự kiến thải 700 triệu tấn rác thải nhựa vào năm 2040. Các nhà khoa học hy vọng sẽ tìm thấy nhiều loài vi khuẩn tương tự với khả năng phân hủy nhanh hơn mức 7 tuần của Ideonella sakaiensis
Một cuộc đua bới rác tìm vi khuẩn bắt đầu, thúc đẩy giới khoa học đi khắp thế giới tìm kiếm loại vi khuẩn sở hữu “siêu năng lực” và có tiềm năng sinh lời.
Đầu 2023, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Chonnam ở Hàn Quốc đưa giàn khoan xây dựng đến bãi rác thành phố, khoan sâu 15 m. Ở đó, GS Soo-Jin Yeom và cộng sự đã tìm thấy vi khuẩn Bacillus thuringiensis, loại có thể sống sót khi ăn túi nilon.
Họ đang tiếp tục nghiên cứu khả năng chuyển hóa nhựa của enzyme trong khuẩn này.
Tại các cánh rừng ngập mặn Việt Nam và Thái Lan, Simon Cragg – một nhà vi sinh vật học từ Đại học Portsmouth – cũng săn lùng các vi khuẩn có khả năng ăn PET khác. Rễ cây trong rừng ngập mặn vướng nhiều rác nhựa. Ông hy vọng loại vi khuẩn có khả năng phân hủy rễ cây ngập mặn có thể chuyển sang “ăn” loại vật liệu này.
Dựa trên những vi khuẩn này, giới khoa học liên tục cải tiến enzyme và ứng dụng trên quy mô lớn, hướng tới ngăn chặn cuộc khủng hoảng rác nhựa.

Tháng 4/2020, nhóm các nhà nghiên cứu từ Đại học Toulouse và Carbios – công ty công nghệ sinh học của Pháp – đã tìm ra một loại enzyme có thể phân hủy tới 90% chai nhựa PET chỉ trong 10 giờ. Theo đó, chỉ cần khuấy trong dung dịch chứa enzyme, một chai nhựa sau vài giờ biến thành các tiền chất nhựa mới, mở ra một phương thức tái chế nhựa dựa vào vi khuẩn.

Theo thống kê, mỗi phút có khoảng một triệu chai nhựa được bán ra trên toàn thế giới, và đạt tới 500 tỷ chai mỗi năm. Phương thức tái chế trên sẽ tạo ra vật liệu mới có chất lượng tương đương nhựa nguyên sinh (loại chưa từng trải qua công đoạn tái chế), giúp “mẹ thiên nhiên” có một khoảng nghỉ trước khi bị khai thác trở lại.
Một lợi ích lớn khác từ giải pháp trên là khả năng tái sử dụng quần áo polyester, khi hơn 50 triệu tấn quần áo polyester (làm từ PET) bị thải ra thùng rác trên toàn cầu, gây ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính.

Sau vi khuẩn, giới khoa học còn phát hiện “thiên địch” khác của nhựa – sâu sáp. Chúng là ấu trùng của bướm sáp, thường dùng như mồi câu cá. Khả năng “ăn” nhựa của sâu sáp được phát hiện vào 2017 bởi các nhà khoa học từ Tây Ban Nha và Anh, khi túi nilon đựng chúng bị cắn thủng.

Một số loài sâu khác cũng được thí nghiệm. Ví dụ tại Serbia, sâu bột được huấn luyện “ăn” nhựa PE, PS, chỉ thải ra CO2 và nước.

Giải pháp huấn luyện sâu “ăn” nhựa đang dừng ở giai đoạn thí nghiệm. Hiện tái chế nhựa dựa vào vi khuẩn là lĩnh vực duy nhất thành công ở quy mô thương mại, với nhà máy đầu tiên trên thế giới dự kiến khởi công trong năm nay, tái chế 50.000 tấn nhựa PET mỗi năm. Carbios, doanh nghiệp đầu tư dự án trên, kỳ vọng ngành tái chế nhựa tiên tiến sẽ đạt 200 tỷ EUR (hơn 235 tỷ USD) vào năm 2050.

Dù đạt được một số thành công ban đầu, các nhà khoa học lưu ý rằng việc ứng dụng vi khuẩn hay sâu ăn nhựa cần hạ tầng thu gom, tương tự giải pháp tái chế cơ học hoặc hóa học. Thêm vào đó, việc quản lý rác nhựa cần đi từ hoạt động giảm thiểu sản xuất, tiêu dùng, phân loại rác tại nguồn cũng như cải thiện thiết kế sản phẩm thân thiện môi trường, tạo thuận lợi cho hoạt động tái chế.

Bảo Bảo (theo Novonesis, The Guardian)
Trích dẫn:Vnexpress

Serbia huấn luyện loại sâu ăn 1 kg nhựa chỉ thải 1g CO2

Các nhà khoa học Serbia đang thử nghiệm dùng sâu bột để ăn rác nhựa từ hộp đựng thực phẩm một lần hay xốp cách nhiệt, thường mất 500 năm để phân hủy.

Viện Sinh học Belgrade (Serbia) được chính phủ, UNDP và các nhà tài trợ từ Liên minh châu Âu (EU) hỗ trợ dự án huấn luyện sâu bột (Tenebrio molitor), ấu trùng của bọ cánh cứng vàng, ăn nhựa polystyrene.

Loại nhựa này viết tắt là PS, ký hiệu nhựa số 6, được ứng dụng trong bao bì, đồ đựng thực phẩm một lần, xốp cách nhiệt.

Larisa Ilijin, nhà nghiên cứu chính của Viện Sinh học Belgrade, nói họ đã bổ sung PS vào bột cám lúa mì, thức ăn thông thường của loại sâu này. Sâu bột thường ăn tạp, nên có thể huấn luyện để ăn các vật liệu nhựa.

“Chúng tôi đang có loại sâu thích ứng với quy trình phân hủy nhựa trong một thời gian dài”, Ilijin nói. Bà thêm rằng vi khuẩn sống trong ruột của sâu bột phân hủy nhựa thành carbon dioxide (CO2), nước, và không có bằng chứng nào cho thấy chúng để lại cặn vi nhựa trong ruột hoặc phân.
Sâu ăn nhựa là một giải pháp xử lý nhựa theo phương thức sinh học, được các nhà khoa học châu Âu phát hiện lần đầu vào năm 2017, trong bối cảnh nhựa mất tới 500 năm để phân hủy. Khi ấy, sâu sáp, ấu trùng của bướm sáp, được phát hiện tự động ăn nhựa polyethylene (PE). Đây là loại nhựa có cấu trúc tương tự sáp ong, thức ăn chính của sâu sáp. Phát hiện này đã mở ra một tương lai cho ngành xử lý nhựa dựa vào côn trùng.

Một số loại sâu được chọn lọc, bỏ đói và thử nghiệm ăn các loại nhựa khác nhau. Hai loại nhựa phổ biến được chọn làm thức ăn cho chúng là PS và PE.

Hai tháng trước tại Canada, Bryan Cassone, giáo sư sinh học tại Đại học Brandon, công bố đã thử nghiệm thành công với 2.000 con sâu sáp ăn trọn vẹn túi nylon (từ nhựa PE) trong 24 giờ
Tuy nhiên, với chế độ ăn hoàn toàn là nhựa, sâu sáp bị sụt cân đáng kể và chết sau vài ngày. Điều này cho thấy sâu sáp khó có thể xử lý nhựa PE liên tục. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tin rằng việc tạo ra nguồn thức ăn hỗ trợ quá trình hấp thụ PE sẽ giúp sâu sáp duy trì khả năng sống khỏe khi ăn nhựa và cải thiện hiệu quả phân hủy. Ví dụ, với thử nghiệm của các nhà khoa học Serbia, sâu bột sống khỏe sau khi ăn thức ăn trộn nhựa.

Giới khoa học tin rằng sâu ăn nhựa là phương thức lý tưởng trong nền kinh tế tuần hoàn. Tùy thuộc vào phụ phẩm sau ăn nhựa, loại sâu này có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi.

Viện Sinh học Belgrade đã tặng một số thùng sâu bột sau nghiên cứu cho Belinda Animals, công ty chuyên nuôi sâu để xử lý nhựa quy mô lớn tại thủ đô Belgrade (Serbia). Loại sâu này giàu protein, không có dư lượng chất ô nhiễm hoặc nhựa, có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi khi đạt quy mô thương mại lớn.

“Khi phân hủy 1 kg xốp, sâu bột thải ra 1-2 g CO2. Trong khi đó, quy trình xử lý lượng xốp này bằng cách đốt cháy sẽ thải ra lượng khí CO2 gấp 4.000 lần”, ông Boris Vasiljev, chủ sở hữu Belinda Animals, cho biết.

Trong bản giới thiệu với UNDP, đại diện Belinda Animals nói mô hình huấn luyện sâu ăn nhựa có tiềm năng cách mạng hóa các hoạt động quản lý chất thải, đồng thời thúc đẩy nông nghiệp bền vững. Nếu sáng kiến này được áp dụng cho chỉ 1% trang trại ở Serbia, ước tính lượng khí thải nhà kính có thể giảm 348.430 tấn CO2e trong 20 năm.

Bảo Bảo (theo Reuters, Wired)
Theo Vnexpress

Mỹ tìm ra hóa chất giúp tái chế nhựa không cần phân loại

tai-che-nhua

Chất xúc tác gốc nickel có khả năng phân hủy chọn lọc nhựa PE và PP, hai loại chiếm gần hai phần ba lượng nhựa toàn cầu, giúp bỏ qua khâu phân loại trong tái chế.

Nhóm nghiên cứu tại Đại học Northwestern (Mỹ) giới thiệu quy trình tái chế nhựa hóa học mới trên tạp chí Nature ngày 2/9, giúp giảm đáng kể, thậm chí bỏ qua hoạt động phân loại rác nhựa tốn nhiều công sức.

Quy trình này sử dụng organonickel, chất xúc tác gốc nickel có khả năng phân hủy chọn lọc polyolefin. Đây là một họ nhựa nhiệt dẻo, gồm nhựa polyethylene (PE) và polypropylene (PP), hai loại chiếm gần hai phần ba lượng nhựa toàn cầu. Chúng được ứng dụng trong sản xuất túi nilon, màng bọc thực phẩm, bình sữa, hộp sữa chua, chai nước sốt.

“Những loại này có tuổi thọ rất ngắn, chủ yếu được dùng một lần. Nếu không tìm ra phương pháp tái chế hiệu quả, chúng sẽ nằm lại ở bãi chôn lấp, tồn tại hàng thập kỷ trước khi phân rã thành các hạt vi nhựa có hại”, Yosi Kratish, đồng tác giả nghiên cứu, nói.
Thực tế, polyolefin có tỷ lệ tái chế rất thấp, khoảng 1-10% theo một nghiên cứu năm 2023 trên Nature. Trong khi đó, ngành công nghiệp nhựa sản xuất tới hơn 220 triệu tấn sản phẩm từ vật liệu này mỗi năm.

Một trong những rào cản lớn nhất của ngành là khâu phân loại rác trước tái chế. Hoạt động này đòi hỏi sự tỉ mỉ bởi mỗi loại nhựa có tính chất, nhiệt độ nóng chảy khác nhau, không thể tái chế cùng nhau. Thêm vào đó, việc lẫn tạp chất, ví dụ cặn thức ăn thừa, nhựa khác loại, hoặc vật liệu không phải nhựa có thể gây hỏng toàn bộ lô tái chế.

Công nghệ tái chế hiện nay cũng còn nhiều hạn chế. Phương thức tái chế phổ biến là cơ học, gồm hoạt động cắt vụn, nấu chảy và tạo hạt nhựa chất lượng thấp.

Một giải pháp khác là nung ở nhiệt độ 400-700 độ C, tạo thành hỗn hợp lỏng và khí. Dù thành phẩm tạo ra có giá trị, các nhà khoa học cho rằng cách thức này tiêu tốn nhiều năng lượng.

Giải pháp nhóm nghiên cứu đưa ra là thủy phân, một quy trình sử dụng khí hydro và chất xúc tác gốc nickel (organonickel) để phân hủy nhựa. Hoạt chất này được ví như “dao mổ chuyên dụng”, chủ yếu tìm và cắt liên kết giữa các nguyên tố carbon (C-C), phá vỡ cấu trúc nhựa vốn bền chắc, đồng thời giúp phân hủy chọn lọc nhựa polyolefin khi chúng được trộn lẫn với loại khác.

Khi chất xúc tác phân hủy PE, PP, nhựa rắn giá trị thấp sẽ chuyển thành dầu và sáp lỏng, có thể được tái chế thành các sản phẩm có giá trị cao hơn như chất bôi trơn, nhiên liệu và nến. Bên cạnh khả năng tái sử dụng nhiều lần, chất xúc tác mới này còn có thể phân hủy nhựa bị nhiễm polyvinyl clorua (PVC), một nguyên liệu độc hại khiến các loại khác trở nên “không thể tái chế”.

PVC là loại nhựa cứng, thường được ứng dụng làm đường ống, sàn nhà và thiết bị y tế. Chúng có vẻ ngoài tương tự các loại nhựa khác, nhưng kém ổn định hơn nhiều khi đun nóng. Khi phân hủy, PVC giải phóng khí hydro clorua, có tính ăn mòn cao, làm ngưng hoạt tính của chất xúc tác, gây gián đoạn quá trình tái chế.

Tuy nhiên, với quy trình được các nhà khoa học từ đại học Northwestern đề xuất, việc bị nhiễm PVC lại khiến chất xúc tác hoạt động mạnh hơn trong quá trình tái chế. Theo nghiên cứu, ngay cả khi tỷ lệ trộn lẫn PVC ở mức 25%, các nhà khoa học nhận thấy quy trình này vẫn được cải thiện hiệu suất.

Thực tế, giải pháp thủy phân đã được phát hiện trước đó. Nhưng các quy trình đòi hỏi nhiệt lượng cao cùng chất xúc tác đắt đỏ, chẳng hạn như platinum và palladium, hai vật liệu quý thuộc nhóm bạch kim.

Trong khi đó, nickel vốn dồi dào, giá rẻ và sẵn có trên thị trường. Với chất organonickel, áp suất khí hydro dùng trong quá trình thủy phân chỉ bằng một nửa so với các chất xúc tác gốc nickel khác. Thêm vào đó, lượng hóa chất dùng ít hơn 10 lần, trong khi hoạt tính cao gấp 10.

Bảo Bảo (theo Phys, Nature)
Trích dẫn: Vnexpress

Nhà máy Lego tỉ đô chính thức vận hành ở Bình Dương

Lego VN

Ngày 9-4, Tập đoàn Lego chính thức khai trương nhà máy Lego Manufacturing Vietnam, cơ sở sản xuất hiện đại hoàn toàn mới tại Khu công nghiệp VSIP III, tỉnh Bình Dương.

Tham dự lễ khai trương nhà máy Tập đoàn Lego có Phó thủ tướng Mai Văn Chính, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam và nhiều lãnh đạo các bộ ngành trung ương, địa phương cùng nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước…
Theo Tập đoàn Lego, nhà máy được xây dựng để góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng dài hạn trong khu vực và mang lại nhiều trải nghiệm vui chơi hơn đến trẻ em trên khắp thế giới.
Đồng thời, đây cũng là cơ sở sản xuất bền vững nhất của Tập đoàn Lego tính đến thời điểm hiện tại. Đây là nhà máy thứ sáu trên toàn cầu và thứ hai tại châu Á của tập đoàn.

Ông Niels B. Christiansen, tổng giám đốc điều hành của Tập đoàn Lego, chia sẻ nhà máy Lego Việt Nam (Lego Manufacturing Vietnam) sẽ đóng vai trò then chốt trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng dài hạn của tập đoàn bằng cách đưa hoạt động sản xuất đến gần hơn với trẻ em và người hâm mộ Lego tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
“Tính đến thời điểm hiện nay, đây cũng là nhà máy bền vững nhất của chúng tôi, hướng đến mục tiêu tạo ra một môi trường làm việc truyền cảm hứng, an toàn và thân thiện với môi trường cho toàn thể nhân viên hiện tại và trong tương lai”, ông Niels B. Christiansen cho hay.

Nhà máy Lego Việt Nam sẽ được vận hành bằng năng lượng tái tạo. Công ty đã ký kết thỏa thuận với Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (VSIP) để xây dựng một trung tâm năng lượng sử dụng giải pháp lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS), nhằm tận dụng nguồn năng lượng từ các tấm pin mặt trời trên mái trung tâm.

Tập đoàn Lego cũng cam kết xây dựng một đội ngũ nhân sự chất lượng cao tại khu vực, với kế hoạch tuyển dụng 4.000 lao động trong những năm tới.

Năm 2024, chương trình đào tạo nội bộ chuyên sâu, kết hợp giữa đào tạo trong nước và nước ngoài, đã được triển khai tại các nhà máy của Tập đoàn Lego trên toàn thế giới. Hiện nay, chương trình vẫn đang tiếp tục với sự hỗ trợ tại chỗ từ hơn 100 chuyên gia đào tạo toàn cầu.

Nguồn: Báo Tuổi Trẻ – TUẤN DUY

Trà Vinh mở rộng dự án năng lượng sạch gần 8.000 tỷ đồng

du-an-hydro-xanh-tra-vinh

UBND tỉnh Trà Vinh mới đây đã chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án “Nhà máy sản xuất Hydro xanh Trà Vinh” do Công ty Cổ phần TGS Trà Vinh Green Hydrogen làm chủ đầu tư. Việc điều chỉnh nhằm mở rộng quy mô khu vực nghiên cứu xây dựng nhà máy lên khoảng 52,76 ha, với tổng mức đầu tư gần 8.000 tỷ đồng.
Dự án “Nhà máy sản xuất Hydro xanh Trà Vinh” do Công ty Cổ phần TGS Trà Vinh Green Hydrogen làm chủ đầu tư, được triển khai tại xã Đông Hải, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Dự án có quy mô sử dụng đất 52,76ha, trong đó bao gồm 22,36 ha mặt đất (đáng chú ý có 0,66ha là đất rừng phòng hộ cần thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng) và 30,4ha diện tích mặt nước.

Theo thiết kế, đây là dự án thuộc loại hình sản xuất khí đốt và phân phối nhiên liệu bằng đường ống, với tổng công suất sản xuất dự kiến gồm 24.000 tấn Hydro mỗi năm, 182.500 tấn Amoniac mỗi năm và 195.000 tấn Oxy mỗi năm. Trong đó, Amoniac được sử dụng làm phương tiện vận chuyển khí Hydro, nhằm tối ưu hóa khâu logistics và đảm bảo an toàn trong lưu trữ, vận chuyển.
Tổng vốn đầu tư của dự án lên tới hơn 7.856 tỷ đồng. Để phục vụ hoạt động sản xuất, nhà máy sẽ khai thác nước biển với lưu lượng khoảng 20.000 m³ mỗi ngày đêm, đồng thời phát sinh lượng nước thải tối đa khoảng 5.200 m³ mỗi ngày đêm.

Dự án được kỳ vọng sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xanh tại địa phương, đồng thời mở ra hướng đi mới trong lĩnh vực sản xuất năng lượng sạch, đặc biệt là trong bối cảnh xu thế chuyển dịch năng lượng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ.

Dự án được UBND tỉnh Trà Vinh chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư tại Quyết định số 3112/QĐ-UBND ngày 31/12/2021. Tiếp đó, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Trà Vinh đã ban hành Quyết định số 36/QĐ-BQLKKT ngày 28/3/2022, cho phép Công ty TGS Trà Vinh Green Hydrogen thuê 207.485,5 m² đất để triển khai dự án. Về các thủ tục liên quan, dự án đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường tại Quyết định số 2114/QĐ-UBND ngày 3/11/2022 của UBND tỉnh Trà Vinh và phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 tại Quyết định số 3542/QĐ-UBND ngày 1/11/2022 của UBND huyện Duyên Hải.

Dự án chính thức khởi công xây dựng vào tháng 3/2023, trên diện tích giai đoạn đầu khoảng 21ha, với thời gian thi công dự kiến kéo dài khoảng 2 năm. Sau khi hoàn thành và đi vào vận hành, nhà máy sẽ có công suất sản xuất 24.000 tấn Hydro/năm và 195.000 tấn Oxy y tế/năm. Đặc biệt, dự án sử dụng công nghệ sản xuất Hydro xanh hiện đại, Amoniac được dùng làm phương án lưu trữ và vận chuyển khí Hydro, đảm bảo hiệu quả và an toàn trong chuỗi logistics. Khi đi vào hoạt động, dự án sẽ tạo việc làm cho khoảng 300 – 500 lao động tại địa phương.
Đến tháng 10/2023, UBND tỉnh Trà Vinh đã chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư và chấp thuận nhà đầu tư (điều chỉnh lần thứ nhất). Gần đây nhất, dự án tiếp tục được điều chỉnh tại Quyết định số 1839/QĐ-UBND ngày 25/10/2024 của UBND tỉnh Trà Vinh (điều chỉnh lần thứ hai). Đồng thời, nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 cho dự án cũng đã được UBND huyện Duyên Hải phê duyệt tại Quyết định số 94/QĐ-UBND ngày 05/02/2025.

Theo đó, Dự án có tổng diện tích nghiên cứu xây dựng khoảng 52,76 ha, bao gồm cả phần đất liền và mặt nước. Cụ thể, diện tích đất sử dụng để xây dựng khu nhà máy là khoảng 20,748 ha; diện tích đất dành cho việc lắp đặt đường ống dẫn đến khu vực triều kiệt là khoảng 1,61 ha. Bên cạnh đó, phần diện tích mặt nước phục vụ cho hệ thống đường ống, bến phao và vùng nước kết nối đến tuyến vận tải ven biển SB có quy mô khoảng 30,4 ha, trong đó: khoảng 18,9 ha dành cho khu vực đường ống và khoảng 11,5 ha dành cho khu vực bến phao và vùng nước kết nối.

Tiến độ thực hiện dự án được chia làm các giai đoạn cụ thể. Trong quý 2/2025, chủ đầu tư sẽ hoàn tất các thủ tục chuẩn bị đầu tư cho phần mở rộng dự án. Toàn bộ công tác thi công xây dựng phần nhà máy được dự kiến hoàn thành vào quý 2/2027. Sau đó, hệ thống đường ống xuất khí và bến phao sẽ được hoàn thiện vào quý 3/2027. Giai đoạn chạy thử sẽ diễn ra từ quý 3 đến quý 4/2027, trước khi dự án chính thức vận hành thương mại từ cuối năm 2027.
Tổng mức đầu tư của dự án lên tới 7.856,079 tỷ đồng (tương đương khoảng 340,09 triệu đô la Mỹ). Cơ cấu chi phí đầu tư được phân bổ như sau: chi phí xây dựng khoảng 1.855,6 tỷ đồng; chi phí thiết bị là 3.954,9 tỷ đồng; chi phí quản lý dự án khoảng 45 tỷ đồng; chi phí tư vấn khoảng 149 tỷ đồng; các chi phí khác là 977,4 tỷ đồng; và chi phí dự phòng là 800,8 tỷ đồng.

Đáng chú ý, dự án cũng dành một khoản kinh phí đáng kể để đầu tư cho hệ thống bảo vệ môi trường với tổng số vốn ước tính khoảng 208,6 tỷ đồng. Trong đó, hệ thống thu gom nước thải và thoát nước được bố trí 7,5 tỷ đồng; trang thiết bị thu gom chất thải là 0,5 tỷ đồng; kho lưu chứa chất thải được đầu tư 0,3 tỷ đồng; bể tách dầu tại khu phụ trợ là 0,3 tỷ đồng; hệ thống phòng cháy chữa cháy được phân bổ 100 tỷ đồng; và hệ thống xử lý nước thải được đầu tư 200 tỷ đồng.

Là một trong những dự án đầu tư quan trọng thuộc Phụ lục III Nghị định số 05/2025/NĐ-CP, Nhà máy sản xuất Hydro xanh Trà Vinh phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, theo quy định tại khoản 1, điều 35 Luật Bảo vệ môi trường. Chủ đầu tư và đơn vị tư vấn là Công ty TNHH Tư vấn Năng lượng VATEC đã và đang thực hiện đầy đủ thủ tục này.

Dự án Hydro xanh Trà Vinh được đánh giá là phù hợp với định hướng phát triển năng lượng tái tạo và mục tiêu trung hòa carbon mà Việt Nam cam kết tại Hội nghị COP26. Theo Chiến lược phát triển năng lượng Hydrogen quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 (ban hành theo Quyết định số 165/QĐ-TTg ngày 7/2/2021), Việt Nam xác định phát triển hydrogen là một phần quan trọng trong quá trình chuyển dịch năng lượng và xây dựng nền kinh tế xanh.
Chiến lược này đặt mục tiêu phát triển đồng bộ chuỗi giá trị hydrogen từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối đến sử dụng – dựa trên nguồn năng lượng tái tạo. Đến năm 2030, công suất sản xuất hydrogen xanh được kỳ vọng đạt từ 100.000 đến 500.000 tấn/năm và tăng lên 10–20 triệu tấn/năm vào năm 2050. Đồng thời, Việt Nam hướng tới xây dựng hạ tầng lưu trữ, vận chuyển hydrogen, từng bước hình thành thị trường hydrogen nội địa và hướng tới xuất khẩu.

Với việc mở rộng quy mô và tăng cường đầu tư, Nhà máy sản xuất Hydro xanh Trà Vinh không chỉ góp phần hiện thực hóa chiến lược năng lượng quốc gia, mà còn đóng vai trò tiên phong trong việc xây dựng hệ sinh thái hydrogen tại Việt Nam, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Nguồn: Petro Times ( Đình Khương)

Tín chỉ carbon là gì?

tin chi Carbon

Tín chỉ carbon (carbon credit) là chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc khí nhà kính khác quy đổi sang CO2.

Trong đó, bên bán là bên có khả năng giảm hoặc tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng với một tấn khí CO2 hoặc lượng khí nhà kính quy đổi tương đương sang CO2 đã được ngăn chặn hoặc loại bỏ, đơn vị là CO2tđ trong tiếng Việt, hoặc CO2eq trong tiếng Anh.

Lưu ý, để tính được tín chỉ carbon thì cần có mức tham chiếu. Đây là lượng phát thải khí nhà kính ước tính sẽ xảy ra nếu không có hoạt động giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon nào được thực hiện, tức “kịch bản thông thường”.

Ví dụ, mức tham chiếu của một dự án trồng rừng có thể là lượng CO2 sẽ được thải ra nếu khu đất đó không được trồng rừng mà vẫn tiếp tục bị chặt phá hoặc sử dụng cho các mục đích khác gây ra phát thải.

Lượng CO2 mà cây cối mới trồng có thể hấp thụ so với kịch bản này sẽ được coi là lượng tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Phần tăng này được bao nhiêu tấn thì quy đổi ra bao nhiêu tín chỉ carbon.
Vì sao có tín chỉ carbon?

Tín chỉ carbon bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) năm 1997, một hiệp định quốc tế nhằm kiểm soát và giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. Theo đó, các quốc gia tham gia cam kết sẽ giảm lượng phát thải khí nhà kính, đồng thời được phép trao đổi quyền phát thải carbon với nhau trên thị trường quốc tế thông qua tín chỉ carbon.

Từ đó, thị trường carbon toàn cầu, nơi các công ty hoặc quốc gia phát thải nhiều hơn mức quy định có thể mua tín chỉ từ các tổ chức, dự án hoặc quốc gia có lượng phát thải thấp hơn hoặc hấp thụ carbon như một trong các cách thức để đạt được các mục tiêu giảm phát thải.

Ngoài ra, để cùng chung tay chống biến đổi khí hậu, ngày càng nhiều công ty tuyên bố về mục tiêu mức phát thải ròng bằng không, tức Net Zero. Theo Net Zero Tracker, một cơ sở dữ liệu do các học giả và tổ chức phi lợi nhuận biên soạn, hơn một phần ba trong số 2.000 công ty đại chúng lớn nhất thế giới đã tự công bố mục tiêu phát thải ròng bằng không của riêng mình.

Các mục tiêu này thường bao gồm các cam kết công khai nhằm giảm lượng khí nhà kính bằng cách sửa đổi quy trình, cải tiến sản phẩm, chuyển đổi nhiên liệu, dùng năng lượng tái tạo, đầu tư vào các dự án loại bỏ carbon. Tuy nhiên, một số ngành đặc thù không thể hoàn toàn loại bỏ được hoàn toàn phát thải. Khi ấy, doanh nghiệp cần mua tín chỉ carbon để bù trừ phần cam kết giảm phát thải còn thiếu.
Tín chỉ carbon là gì?
Tín chỉ carbon (carbon credit) là chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc khí nhà kính khác quy đổi sang CO2.

Trong đó, bên bán là bên có khả năng giảm hoặc tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng với một tấn khí CO2 hoặc lượng khí nhà kính quy đổi tương đương sang CO2 đã được ngăn chặn hoặc loại bỏ, đơn vị là CO2tđ trong tiếng Việt, hoặc CO2eq trong tiếng Anh.

Lưu ý, để tính được tín chỉ carbon thì cần có mức tham chiếu. Đây là lượng phát thải khí nhà kính ước tính sẽ xảy ra nếu không có hoạt động giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon nào được thực hiện, tức “kịch bản thông thường”.

Ví dụ, mức tham chiếu của một dự án trồng rừng có thể là lượng CO2 sẽ được thải ra nếu khu đất đó không được trồng rừng mà vẫn tiếp tục bị chặt phá hoặc sử dụng cho các mục đích khác gây ra phát thải.

Lượng CO2 mà cây cối mới trồng có thể hấp thụ so với kịch bản này sẽ được coi là lượng tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Phần tăng này được bao nhiêu tấn thì quy đổi ra bao nhiêu tín chỉ carbon.

Đồ họa: Dỹ Tùng
Đồ họa: Dỹ Tùng

Vì sao có tín chỉ carbon?

Tín chỉ carbon bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) năm 1997, một hiệp định quốc tế nhằm kiểm soát và giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. Theo đó, các quốc gia tham gia cam kết sẽ giảm lượng phát thải khí nhà kính, đồng thời được phép trao đổi quyền phát thải carbon với nhau trên thị trường quốc tế thông qua tín chỉ carbon.

Từ đó, thị trường carbon toàn cầu, nơi các công ty hoặc quốc gia phát thải nhiều hơn mức quy định có thể mua tín chỉ từ các tổ chức, dự án hoặc quốc gia có lượng phát thải thấp hơn hoặc hấp thụ carbon như một trong các cách thức để đạt được các mục tiêu giảm phát thải.

Ngoài ra, để cùng chung tay chống biến đổi khí hậu, ngày càng nhiều công ty tuyên bố về mục tiêu mức phát thải ròng bằng không, tức Net Zero. Theo Net Zero Tracker, một cơ sở dữ liệu do các học giả và tổ chức phi lợi nhuận biên soạn, hơn một phần ba trong số 2.000 công ty đại chúng lớn nhất thế giới đã tự công bố mục tiêu phát thải ròng bằng không của riêng mình.

Các mục tiêu này thường bao gồm các cam kết công khai nhằm giảm lượng khí nhà kính bằng cách sửa đổi quy trình, cải tiến sản phẩm, chuyển đổi nhiên liệu, dùng năng lượng tái tạo, đầu tư vào các dự án loại bỏ carbon. Tuy nhiên, một số ngành đặc thù không thể hoàn toàn loại bỏ được hoàn toàn phát thải. Khi ấy, doanh nghiệp cần mua tín chỉ carbon để bù trừ phần cam kết giảm phát thải còn thiếu.

Ý nghĩa của tín chỉ carbon

Tín chỉ carbon ra đời nhằm khuyến khích các doanh nghiệp và tổ chức giảm lượng phát thải khí nhà kính bằng cách đầu tư vào các công nghệ và dự án xanh. Điều này giúp giảm bớt tác động của biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.

Việc trao đổi và mua bán tín chỉ carbon còn tạo ra một thị trường mới, thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp xanh như năng lượng tái tạo, trồng rừng, và các dự án tiết kiệm năng lượng. Điều này không chỉ giúp giảm phát thải mà còn tạo ra cơ hội kinh tế mới.

Ở nhiều quốc gia, các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về lượng phát thải khí nhà kính. Tín chỉ carbon giúp các doanh nghiệp này đáp ứng các yêu cầu pháp lý, tránh được các khoản phạt và tăng cường hình ảnh thương hiệu xanh.

Ngoài ra, tín chỉ carbon thúc đẩy tính minh bạch trong việc đo lường và báo cáo lượng phát thải khí nhà kính, từ đó giúp cộng đồng và chính phủ có cái nhìn rõ ràng hơn về những nỗ lực chống biến đổi khí hậu.

Nguồn : VnExpress